BHXH (Bảo hiểm xã hội) là gì?
BHXH — Bảo hiểm xã hội — là chính sách an sinh bắt buộc, trong đó người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp để bù đắp một phần thu nhập khi người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hết tuổi lao động (hưu trí) hoặc tử tuất.
BHXH bắt buộc thường đi kèm BHYT (bảo hiểm y tế) và BHTN (bảo hiểm thất nghiệp). Ba quỹ, ba việc khác nhau: BHXH lo thu nhập khi bạn không lao động được, BHYT lo chi phí khám chữa bệnh, BHTN lo giai đoạn giữa hai công việc.
Đóng bao nhiêu, ai đóng
Phần người lao động đóng theo quy định hiện hành là 10,5% tiền lương làm căn cứ đóng: 8% vào quỹ hưu trí và tử tuất, 1,5% bảo hiểm y tế, 1% bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động đóng thêm một phần lớn hơn cho các quỹ tương ứng — nghĩa là tổng tiền vào quỹ đứng tên bạn nhiều hơn con số bị trừ trên phiếu lương khá nhiều.
Mức đóng có trần: bảo hiểm xã hội và y tế đóng tối đa trên 50.600.000 đồng (20 lần lương cơ sở 2.530.000 đồng), bảo hiểm thất nghiệp tối đa trên 106.200.000 đồng (20 lần lương tối thiểu vùng I). Thu nhập vượt trần không bị trừ thêm, và cũng không làm tăng mức hưởng sau này.
Năm chế độ bạn đang mua bằng khoản khấu trừ đó
Ốm đau — nghỉ có hưởng một phần thu nhập khi bản thân ốm hoặc con nhỏ ốm, theo số ngày quy định. Thai sản — chế độ nghỉ và trợ cấp khi sinh con, nhận con nuôi, và cả cho lao động nam có vợ sinh con. Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — trợ cấp khi suy giảm khả năng lao động do công việc. Hưu trí — lương hằng tháng khi đủ tuổi và đủ thời gian đóng. Tử tuất — trợ cấp cho thân nhân.
Ba chế độ đầu là thứ nhiều người dùng tới trong vài năm đầu đi làm mà không biết mình có quyền. Chế độ thai sản đặc biệt hay bị bỏ sót ở lao động nam — luật có quy định nghỉ khi vợ sinh con.
Mức đóng quyết định mức hưởng
Đây là nguyên tắc chi phối tất cả: mọi chế độ đều tính trên tiền lương làm căn cứ đóng, không tính trên thu nhập thật. Công ty tách thu nhập thành lương cơ bản thấp cộng nhiều phụ cấp thì bạn bị trừ ít hơn mỗi tháng, nhưng tiền thai sản, tiền ốm đau, trợ cấp thất nghiệp và lương hưu về sau đều tính trên nền thấp đó.
Vì vậy câu hỏi “mức lương đóng bảo hiểm là bao nhiêu” quan trọng ngang câu hỏi “lương bao nhiêu”, và nên hỏi trước khi ký chứ không phải sau.
Tự kiểm tra quá trình đóng
Quá trình đóng gắn với mã số bảo hiểm xã hội của bạn và đi theo bạn suốt đời làm việc, qua mọi công ty. Bạn tra cứu được bằng ứng dụng VssID – Bảo hiểm xã hội số: xem từng tháng đã đóng, mức đóng, và công ty nào đóng.
Nên kiểm tra ít nhất mỗi năm một lần, và bắt buộc kiểm tra khi chuyển việc. Hai lỗi hay gặp: công ty báo giảm chậm khiến quá trình bị đứt quãng, và mức đóng thực tế thấp hơn thoả thuận. Cả hai đều sửa được nếu phát hiện sớm.
Khi nghỉ việc, nhớ chốt sổ với công ty cũ — công ty mới cần quá trình sạch để báo tăng. Việc này thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động, nhưng thực tế bạn nên chủ động theo dõi.
Lưu ý: quy định về bảo hiểm xã hội thay đổi theo từng thời kỳ, đặc biệt ở điều kiện hưởng và cách tính. Trước khi làm thủ tục, hãy đối chiếu văn bản đang có hiệu lực hoặc hỏi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi bạn tham gia.
Ví dụ: một tháng lương bị trừ những gì
Anh Nam có tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm là 12 triệu/tháng. Phần anh đóng theo tỉ lệ hiện hành là 10,5%, tức khoảng 1.260.000 đồng mỗi tháng, hiện trên phiếu lương ở mục khấu trừ. Công ty đóng thêm một phần lớn hơn nữa vào các quỹ tương ứng.
Đổi lại, cùng mức đóng đó anh Nam được: nghỉ ốm có hưởng chế độ theo số ngày quy định; nếu vợ sinh con thì có chế độ thai sản dành cho lao động nam; khám chữa bệnh được bảo hiểm y tế chi trả theo mức hưởng; và toàn bộ thời gian đóng được cộng dồn cho lương hưu sau này.
Nếu công ty ghi lương đóng chỉ 5 triệu trong khi thu nhập thật 12 triệu, khoản khấu trừ hằng tháng nhỏ đi — nhưng tiền thai sản, tiền ốm đau và lương hưu sau này đều tính trên 5 triệu.
Tra cứu & tính toán liên quan BHXH (Bảo hiểm xã hội)
Thủ tục và công cụ tính theo tham số luật hiện hành.
Tỷ lệ trích từ tiền lương tháng đóng bảo hiểm của người lao động, áp dụng từ 01/07/2026. Nguồn lương tối thiểu vùng: Nghị định 293/2025/NĐ-CP (thay Nghị định 74/2024/NĐ-CP), tăng bình quân 7,2%.